Năm A

 
 

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG A

Is 2,1-5 / Rm 13,11-14 / Mt 24,37-44
 

Lm. An Phong,op : Mong Đợi Chúa

Giuse Nguyễn Cao Luật op : Vào Lúc Anh Em Không Ngờ

Fr. Jude Siciliano. op : Hướng đến cuộc Giáng Sinh nội tâm

Ts Phan-xi-cô đờ Xan Lê Văn La Vinh, op : Chuẩn Bị Tâm Hồn

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Chúa sẽ đến, hãy sẵn sàng

Gioan B. Vũ Văn Tín op : Hân Hoan Bước Vào Mùa Hy Vọng

Sylvester Ngọc Minh, op : Anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến

Đỗ Lực op : Khi Con Người Đến

Fr. Jude Siciliano, op : Hãy Tỉnh Thức

Fr. Jude Siciliano, op: Đức Giêsu không phải kẻ trộm đến để lấy cắp

 

 


Lm. An Phong,OP

Mong Đợi Chúa
Mt 24,37-44

Thời đại của ngôn sứ Isaia (800 trước Công nguyên) là một thời đại đen tối nhất trong lịch sử Dân Chúa. Hơn lúc nào hết, dân chúng mong ước một Đấng Cứu tinh có khả năng mang lại cho dân một cuộc sống hạnh phúc, hòa bình.

Isaia đã tuyên báo về ngày Thiên Chúa đáp lại lòng mong ước của dân, ngày “sói ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ, bò tơ và sư tử được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng...” (Is.11,6).

Thời Chúa Giêsu cũng vậy, đế quốc Rôma đang thống trị dân Do Thái, và người ta nhớ đến những lời hứa của Thiên Chúa trong lịch sử của dân tộc; người ta đến với Gioan Tẩy giả để chuẩn bị đón Chúa đến.

Thời Isaia cũng như thời Chúa Giêsu là những “Mùa Vọng" trong lịch sử của dân Israen : đó là thời đại dân chúng nhận ra nỗi khổ của đời sống con người, mong ước Chúa đến để thực hiện vương quốc của Ngài. Thời đại chúng ta cũng thế và trong cuộc đời mỗi người cũng thế; cuộc sống con người vẫn có những khó khăn, bế tắc, đau khổ; những khó khăn ràng buộc cuộc sống, những đau khổ dằn vặt tâm hồn và những bế tắc không thể vượt qua. Cuộc sống con người trong giai đoạn hiện tại cũng là một mùa Vọng.

Giáo hội đưa chúng ta vào mùa Vọng để tất cả Giáo hội lại cất lên lời kêu xin Thiên Chúa đến, để mỗi người chúng ta sống niềm trông cậy vào Ngày Chúa Đến, để chúng ta nhận ra những dấu chỉ Thiên Chúa đang đến và để chúng ta cùng dọn đường chờ Chúa đến.

Thiên Chúa vẫn đang đến. Ngài sẽ đến trọn vẹn trong Ngày Cánh Chung, nhưng Ngài cũng đang hiện diện, đang đồng hành với chúng ta trong cuộc sống hôm nay, trong cuộc sống của tôi, trong hoàn cảnh khó khăn xung quanh tôi. Nếu chúng ta biết sống mùa Vọng, sống tâm tình trông đợi của mùa Vọng, thì chúng ta cũng nhận ra Nước Trời mai sau cũng đang tỏ lộ trong thế giới hôm nay. Anh em phải sám hối, vì Nước Trời đã gần đến.

Lạy Chúa !

Có bao người cô đơn, và có bao người đang tuyệt vọng;
họ chỉ thấy trước mặt mình là bóng đêm dày đặc;
họ chỉ còn biết quơ tay tứ phía và bám víu vào bất cứ điều gì;
hoặc họ không còn biết bám víu vào đâu hết,
chỉ còn biết thả mình mặc dòng nước cuốn trôi.

Và lạy Chúa !
Cũng có những người chỉ còn một ước muốn duy nhất : ước muốn tự tử.
Con xin thay mặt cho họ mà cầu xin cùng Chúa.
Con xin nói lên tiếng kêu gào của họ với Chúa.
Xin Chúa hãy đến, xin Chúa mau đến, xin Chúa hãy giơ tay đáp cứu.

Và lạy Chúa, Chúa đang đến trong con. Chúa đang ngự trong tâm hồn con.
Xin Chúa cũng cho con biết dọn đường cho Chúa đến.
Xin Chúa hãy dùng con mà đến với bao người cô đơn,

bao người đau khổ, bao người tuyệt vọng ở chung quanh con.

Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến !


Giuse Nguyễn Cao Luật op

Vào Lúc Anh Em Không Ngờ
(Mt 27,37 - 44)

Kết thúc và khởi đầu

Phần phụng vụ Lời Chúa của ngày Chúa Nhật hôm nay trích một đoạn thuộc phần cuối Tin Mừng thánh Mat-thêu để khởi đầu cho một năm phụng vụ mới. Thực ra, đầu và cuối cũng đều quy về mầu nhiệm Đức Giêsu. Không phải chỉ ngày hôm nay mà thôi, nhưng cách chung trong Tin Mừng, tất cả mọi kết thúc đều là một khởi đầu. Kết thúc của một điểm này nhưng là khởi đầu của một điểm khác. Kết thúc của một giai đoạn này, nhưng lại mở ra một giai đoạn khác. Cái chết của Đức Kitô là điểm kết thúc cuộc đời của Người trên trần gian, nhưng đó cũng là cửa ngõ mở ra một thế giới mới, là bình minh của những ngày lễ Noel mới.

Có những điểm khởi đầu bất chợt, âm thầm, không ai hay biết : có thể do không quan tâm để ý, có thể không hiểu ý nghĩa.

Xưa kia, khi ông Nô-ê đóng con tàu, thiên hạ vẫn ăn uống vui chơi, có người còn chế giễu ông làm chuyện điên rồ. Ông đã khởi đầu cho một giai đoạn mới, nhưng thiên hạ không nhận ra, họ không thấy điểm kết thúc đang đến. Khi ông và cả gia đình vào sống trong tàu, thiên hạ cũng chẳng để ý. Chỉ khi nước ập đến, họ mới hiểu việc ông làm.

Trong câu chuyện về ông Nô-ê, có những chu kỳ vẫn hoạt động đều đặn :

- chu kỳ đời sống : ăn uống, cưới vợ lấy chồng

- chu kỳ kinh tế : ruộng đồng, cối xay bột

- chu kỳ “sở hữu” : ông chủ và ngôi nhà, của cải…

“Thiên hạ không hay biết gì”, vì ba hệ thống này vận hành quá tốt đẹp. Đó là những sinh hoạt thường xuyên của đời sống con người. Đó là những điều, tự nó không phải là cái gì xấu xa. Trái lại, đó là những thực tại mà ở thời nào cũng có, lúc nào cũng vậy. Những sinh hoạt đó quá bình thường, bình thường đến nỗi chẳng có ai hiểu rằng, tự nó, sự vận hành này đã là một kết thúc.

Và bất thình lình, nạn Hồng Thủy xảy đến. Một biến cố ghê gớm ập xuống. Biến cố này phá vỡ những thói quen, nhận chìm mỏi của cải, cuốn phăng mọi thứ. Biến cố này tạo nên một thứ khủng hoảng, buộc con người phải suy nghĩ lại về tương lai của mình, bắt họ phải nhìn lại điểm khởi đầu cũng như điểm kết thúc của cuộc đời.

Những cặp mắt rộng mở

Trong câu chuyện, Đức Giêsu không có ý phiền trách con người về những điều xấu xa. Người chỉ muốn cảnh giác họ. Thực ra, họ vẫn sống những điều bình thường của mọi người, của mọi thời… thế nhưng, sự quan tâm đến những nhu cầu bình thường ấy đã làm họ xao lãng điều thiết yếu. Họ không có được nhận định đúng đắn về cuộc đời, về thực tại. Họ có cảm tưởng như những điều đang xảy ra, những sinh hoạt của họ là những điều vĩnh cửu, và cuộc sống đang diễn ra trước mắt là tất cả ý nghĩa thực sự của con người. Vì thế, họ không muốn đi xa hơn, không muốn khám phá những thực tại ẩn dấu phía sau những sinh hoạt hữu hình. Họ không biết rằng thực tại ẩn dấu đàng sau những chu kỳ mới là điều thiết yếu.

Thực tại ẩn dấu đó chính là sự hiện diện của Thiên Chúa, là ơn cứu độ, là cùng đích của đời người. Đó là một thực tại thâm sâu và thiêng liêng, một thực tại âm thầm nhưng sống động. Chỉ người nào tỉnh thức, chỉ người nào nhạy bén mới nhận ra được. Nói theo Tin Mừng, thực tại ấy không thể được nhận ra bằng cặp mắt thường, phải có cặp mắt rộng mở, cặp mắt của lòng tin.

Như thế, quan tâm tới thực tại ẩn dấu, nghĩa là quan tâm tới điều chính yếu hơn là điều phụ thuộc, để ý đến điều vĩnh cửu hơn là điều mau qua, chú trọng đến điều đang tới hơn là điều đang qua đi. Thực tại đó, theo quan niệm Kitô giáo, là chính Thiên Chúa đang đến với con người, đến trong con người để giải thoát, để cứu độ họ ; và ngược lại, con người đang đến với Thiên Chúa, đang đến gặp Người.

Tuy vậy, phải nói thêm rằng, đây không phải là vấn đề thời gian khi nào thực tại đó xảy đến, nhưng là vấn đề nội dung, là thái độ, là chiều hướng mà thực tại đó đem lại cho đời sống, bởi vì thực tại đó đã đến rồi : Thiên Chúa đang đến và không ngừng đến.

Người Kitô hữu không tỉnh thức để chờ đợi một biến cố sẽ xảy ra trong tương lai, cũng không phải là đón chờ một ngày lễ sắp đến, nhưng là đối diện với một thực tại đang có, thực tại của ngày hôm nay, ở đây và lúc này.

Do đó, người kitô hữu không chỉ mở rộng đôi mắt để hướng về tương lai xa xăm, nhưng thiết yếu và chính xác hơn, là nhìn rõ những điều đang xảy ra, khám phá những huyền nhiệm ẩn dấu bên trong để có thái độ, cách hành động xứng hợp.

Ngay trong nhịp sống bình thường

Có nhiều lúc, con người có khuynh hướng chỉ nghĩ rằng Thiên Chúa sẽ đến vào ngày thế mạt, hay gần hơn, là trong cái chết của mỗi người. Thực ra, Đức Giêsu nói cho họ biết rằng Thiên Chúa chính thức đến thăm, đến gặp gỡ, đến cứu họ ngay giữa những sinh hoạt bình thường, bận rộn nhất. Thiên Chúa vẫn đến với con người tại nơi họ làm việc, ngay trong nhà họ ở, cả khi họ ăn uống, ngủ nghỉ… và trong những mỗi tương giao rất riêng tư của họ, giữa con người với con người.

Bởi thế, nếu là người kitô hữu đích thực, Người ta sẽ phải chờ đón Thiên Chúa tại những ngõ rẽ của cuộc đời, phải gặp gỡ Người ngay trong những sinh hoạt của đời thường. Họ phải đón tiếp Người, phải sống với người giữa những đổi thay, và trong cả cái đơn điệu của nhịp sống. (Một khi nhận ra sự hiện diện sống động của Thiên Chúa, sự đơn điệu ấy vẫn có ý nghĩa và chẳng còn là… đơn điệu !).

Thiên Chúa đang đến trong mỗi giây phút của cuộc đời. Điều này giúp con người tránh khỏi sự chờ đợi của việc Chúa đến vào ngày mai, tháng sau, vào lễ Giáng Sinh… Thực tại ấy đã bao phủ cả con người, cả cuộc đời của họ rồi.

Phải nói thêm rằng, thực tại ấy quá âm thầm, quá đơn giản, quá thường xuyên và vì vậy, làm cho con người ngỡ ngàng. Người ta thường chờ đón những biến cố lớn lao, rầm rộ, nhưng khi biến cố ấy xảy ra cách bình thường, người ta lại không nhận ra, và nếu có nhận ra, họ lấy làm ngạc nhiên : sao lại có thể như thế ? Vậy mà Thiên Chúa của chúng ta như thế đó, Người đến như vậy đó.

Khi nhắc lại chuyện ông Nôê và nạn Hồng Thủy, Đức Giêsu không có ý đe dọa, cũng không muốn gây sợ hãi. Người báo trước để nhắc nhở con người phải tỉnh thức, phải ở trong tư thế sẵn sàng để đón chờ, và nhất là phải can đảm để hoạt động.

Chờ đợi điều bất ngờ

Mùa Vọng, Lễ Giáng Sinh nhắc nhở chúng ta về việc Chúa đến, về thực tại thiêng liêng, về những điều bất ngờ.

Thay vì nhìn vào khía cạnh tiêu cực của biến cố, chúng ta phải khai thác khía cạnh tích cực. Không chỉ coi nạn Hồng Thủy như một đại họa, nhưng phải nhìn nhận đây là hành vi cứu độ. Qua biến cố này, Thiên Chúa cứu vớt con người, ký kết một giao ước mới, và từ đó làm phát sinh một nhân loại mới.

Biến cố bất ngờ ấy là cuộc đăng quang của một cái gì mới, để đạt tới một cái gì cao hơn, đẹp hơn, sâu xa hơn. Giao ước với Nô-ê củng cố những giao ước trước kia, cho con người nhìn thấy rõ hơn sự can thiệp của Thiên Chúa vào trong lịch sử và con người tham dự sâu xa vào chương trình của Thiên Chúa.

Thiên Chúa đến mở ra kỷ nguyên vĩnh cửu, mở ra những tương giao mới, tương giao của tình yêu.

Như thế, Lễ Giáng sinh là một cuộc sáng tạo mới và ngược lại, mỗi khi con người được tái tạo, là một lần Giáng Sinh.

Và Mùa Vọng là chờ đợi điều bất ngờ, chờ đợi ngay trong giây phút này, ngay ngày hôm nay, chờ đợi nơi những điều bình thường nhất, chờ đợi những kết thúc và những khởi đầu…


Fr. Jude Siciliano. OP

Hướng đến cuộc Giáng Sinh nội tâm
Mt 24,37-44

Thưa quý vị.

Từ nhiều năm nay, mỗi khi Mùa Vọng tới là tôi lại cảm thấy ân hận. Ân hận vì người ta đã làm mất ý nghĩa của Mùa này, Mùa mong đợi. Mới đầu Mùa Vọng người ta đã đua nhau thắp đèn Giáng Sinh, bầy hang đá, bán hàng lưu niệm, quà biếu xén, đồ chơi cổ truyền từ thời Victoria. Các gia đình đã lên chương trình thăm bạn bè, họ hàng xa gần. Mới đầu Mùa Vọng người ta đã bàn tính nghỉ Giáng Sinh, dẹp bỏ bớt hận thù, hiềm khích, những phức tạp của cuộc đời bon chen. Mới đầu Mùa Vọng người ta đã bàn tán hoài cổ, nhớ nhung quá khứ, dự kiến tương lai, những cuộc vui chơi của các ngày nghỉ sắp tới … Hồi ấy Mùa Vọng có đâu như bây giờ … Mùa Vọng tràn đầy những hình ảnh động đất, đói khát, ôn dịch, điềm lạ trăng sao, mặt trời múa nhảy báo trước những tai hoạ khủng khiếp, thiên hạ lo sợ … tuỳ vào các bài đọc sách thánh theo chu kỳ hàng năm. Ðó mới là Mùa Vọng.

Dĩ nhiên năm nay, mọi sự đều đã xảy ra khác. Hàng ngày tôi mở Radio, TV đều phải ngạc nhiên tự hỏi : "Thế giới ra sao rồi đây ? Ðiều chi xảy ra kế tiếp ?" Các bài đọc Mùa Vọng thực sự đang xảy ra trên trái đất mà TV, Radio trình chiếu trước mắt mọi người. Hàng triệu người đang chạy trốn các cuộc chiến tranh. Ðói khát, bệnh tật đang đe doạ nhiều vùng trên thế giới, nhất là ở Afganistan, từng triệu tấn bom tàn phá các toà nhà kiên cố nhất, hang cùng ngõ hẻm đâu đâu cũng có khủng bố, tội ác. Như vậy liệu chúng ta có xứng đáng nghỉ lễ Mùa Giáng Sinh này ? Xứng đáng vui chơi đùa giỡn trên những đau khổ của đồng loại ? Liệu những lời loan báo của Kinh thánh có đủ để chúng ta cảnh giác chăng ? Tôi thiết nghĩ là quá đủ, chẳng cần thêm đau thương và sợ hãi để nghĩ đến ngày Chúa đến!

Tác giả Fred Craddock đã viết rằng Mùa Vọng đến để chúng ta có cơ hội cùng nhau thốt lên lời than vãn. Than vãn vì những mong đợi chưa đến, than vãn với tất cả tạo vật đang rên siết vì sẽ bị huỷ hoại. Thực ra chúng ta đã kinh nghiệm huỷ hoại ngay chính ngày hôm nay, trên mặt địa cầu này. Tan rã đang từng giây, từng phút gậm nhấm muôn loài, muôn vật. Ðặc biệt trong Mùa Vọng này chúng ta cần phải kêu to hơn nữa lời than vãn bởi vì chúng ta được chứng kiến tận mắt lòng thù hận đang trào dâng tàn phá nhân loại, nhiều người phải chết mà không rõ lý do. Họ đang làm việc, đang uống cà phê, đang lo toan công việc làm ăn, tai hoạ thình lình ập tới cướp mất sinh mạng mà không kịp nhắn nhủ người thân lấy một lời. Chúng ta cần phải than vãn bởi vì công lý vĩnh cửu của chúng ta mà hàng trăm ngàn kẻ vô tội phải trả giá bằng sinh mạng, hàng triệu người khác phải chịu đói khát, rét mướt trong Mùa Ðông sắp tới.

Chúa Thánh Thần không những lắng ta nghe những lời than vãn của chúng ta trong Mùa Vọng này, mà còn như thánh Phaolô nói (Rm 8) liên kết chúng ta, cảnh giác chúng ta về những đau khổ anh chị em chúng ta đang phải chịu đựng trên khắp mặt đất. Chúng ta chẳng cần phải tăng cường lời cảnh cáo Mùa Vọng về những tai hoạ bất ưng sắp xảy đến. Chúng ta đã bị hàng ngàn biến cố đột xuất đè bẹp. Chúng ta chẳng cần đại hồng thuỷ No-e nhận chìm và cuốn trôi loài người không sẵn sàng. Chúng ta cần bây giờ là Thiên Chúa lại đến để hoàn tất những gì chưa được hoàn thành trên thế giới. Công bình và bác ái, ơn thánh và thương yêu, hy sinh và cầu nguyện, … Thế giới này đã quá mệt mỏi và tan nát và chúng ta, các tín hữu, chẳng có được mấy phương tiện để giúp đỡ, vực dậy, và tiếp tế sinh lực cho nó. Chúng ta khao khát một triều đại bình an, thịnh vượng như lời các Ngôn sứ mô tả trong Thánh kinh. Nhưng thực tế, chỉ có một thế giới chia năm, xẻ bảy đầy hận thù và tối tăm. Vậy chúng ta đón Chúa trở lại ở nơi nào ? Trốn khỏi đây để đi tìm một thế giới khác ? Ðiều đó chẳng có thực tế chút nào ! Nếu chúng ta tin vào Kinh thánh, thì hãy ở lại đây, trên trái đất này còn ăn còn uống, còn cày ruộng, thu gặt mùa màng, dựng vợ gả chồng, nhưng trong một thể thức khác, lành thánh hơn để đón Chúa đến. Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai đã đặt chương trình cho các tín hữu Roma : "Vậy anh em hãy loại bỏ những việc làm đen tối và cầm lấy vũ khí của sự sáng, không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ, ghen tương" (Rm 13,12).

Ðời xem ra vẫn bình lặng trôi qua, nhưng dưới hết mọi sự Chúa đang mở lối vào thế gian. Chúng ta phải "tỉnh thức" để chờ đợi Ngài. Mùa Vọng là cơ hội để thức tỉnh mọi người về biến cố đó. Ngài đến để chỉnh đốn mọi sự theo thánh ý Thiên Chúa. Từ nguyên thuỷ, Thiên Chúa tạo dựng mọi sự từ hư vô và thấy chúng là "tốt". Nhưng tội lỗi đã làm chúng nên xấu xa, mờ tối. Chúa đang đến, điều đó là chắc chắn. Chúng ta đừng mê ngủ, cũng đừng lừa dối mình. Mùa Vọng là mùa mong đợi, nhưng không phải là ngồi không, mà là tỉnh thức thi hành những nhiệm vụ quan trọng trước khi Ngài đến. Hơn lúc nào hết, hoà bình đang cần bàn tay kiến tạo của nhân loại thiện tâm thiện chí, của mỗi người chúng ta. Xin hãy lợi dụng hết mọi cơ hội, mọi thời gian để kiến tạo công lý và hoà bình trong viễn cảnh Chúa đang trở lại thế gian. Nếu không có hy vọng Ngài trở lại, nhân loại sẽ thất vọng biết bao ! và tiếng than vãn của chúng ta sẽ vô cùng, vô tận hoặc là tiếng kêu kinh hoàng của ngày huỷ diệt vũ trụ !

Dựa vào bằng chứng nào mà bảo Chúa đang đến ? Tôi chẳng thể trả lời được câu hỏi đó. Nhưng tôi không hy vọng hão huyền. Tôi vẫn tin tưởng vào Ngài đang làm việc với các môn đệ tỉnh thức để kiến tạo Nước Trời và Ngài tuyên bố Nước Trời đang ở giữa chúng ta. "Không biết" đó là đặc tính của bài Tin Mừng hôm nay. Thời No-e người ta "không biết" và người ta đã bị biến cố đại hồng thuỷ "bắt chợt". Chúa Giêsu khuyên nhủ các Tông đồ "hãy tỉnh thức" vì các ông không thể biết "ngày nào, giờ nào" Chúa sẽ đến. Người chủ nhà trong dụ ngôn hôm nay cũng "không biết" lúc nào kẻ trộm đến. Chúng ta cũng chẳng thể biết khi nào "Con Người" sẽ đến. Hai ngàn năm đã trôi qua nhân loại vẫn chưa được chứng kiến biến cố Ngài quang lâm.

Khi thánh Mat-tê-o viết Phúc Âm cho giáo đoàn Do thái tiên khởi, Ngài cũng cảm thấy mong đợi của giáo đoàn đã mòn mỏi. Họ đã mong chờ quá lâu các dấu hiệu ở trên trời rằng Chúa Giêsu đang trở lại. Nhưng chẳng thấy dấu hiệu nào cả ! Ngài đề cập đến sự chậm trễ này bằng cách khuyên nhủ giáo đoàn nhìn kỹ hơn vào việc Chúa thường trở lại trong cuộc đời mỗi người. Dụ ngôn "ông đạo chích" lọt vào nhà bày tỏ tư tưởng đó. Ông "đạo chích" Giêsu cũng thường lọt vào linh hồn chúng ta bất chấp mọi cảnh giác. Thời nay nhà cửa vẫn thường được gài chuông báo động điện tử tối tân, nhưng báo chí vẫn loan tin trộm cướp gia tăng với tốc độ chóng mặt. Ðạo chích có mánh lới riêng của họ mà không ai ngờ trước được. Chúa Giêsu cũng có "tài" của Ngài lẻn vào hết mọi ngõ ngách của cuộc đời nhân loại, không ai ngăn cản được. Vậy thì "tỉnh thức" là yếu tố căn bản của cuộc đời tín hữu, nhất là trong "Mùa Vọng" này.

Xin ngợi khen Thiên Chúa về ông "Tướng trộm" Giêsu. Ông quá khôn ngoan và khéo léo. Ông có thể xâm nhập mọi con tim mà không cần mở khoá. Ông vào đó hoạt động, mang ơn hối cải và hạnh phúc cho mọi tâm hồn. Có lẽ Mùa Vọng là thời gian thuận tiện để chúng ta tắt hết các máy báo động. Sự thật sẽ được rao giảng, chúng ta cần Ngài đến, lẻn qua các hàng rào canh chừng, phá huỷ mọi ảo tưởng, ảo giác, lườn khươn của chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta sẽ phản kháng, dựng nên những vỏ bọc, thành trì vững chắc hơn, hứa hẹn thay đổi trong ngày mai. Nhưng ông "Tướng" đó chẳng chịu nghe. Ông ương gàn đòi hỏi đáp ứng ngay tức thời ở chính hoàn cảnh chúng ta đang sống (Hic et nunc). Nếu chúng ta "thức tỉnh" chúng ta sẽ tìm cách thoả hiệp với ông về một vài đường lối nào đó để đầu hàng, như quân Taliban đầu hàng Liên Minh Miền Bắc ở Kunduz.

Một trong các đường lối "đầu hàng" mà Mùa Vọng này gợi lên là danh từ rất hấp dẫn "quà". Không phải quà cho người khác mà quà của Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta. Catherine Gunsalus Gonzalez lưu ý rằng chúng ta đang ở Mùa nhận quà của Thiên Chúa. Nhận quà của Thiên Chúa là ý thức tất cả chúng ta, trẻ, già, trai, gái, đàn ông, đàn bà, da trắng, da đen đều phải lệ thuộc vào một nhu cầu căn bản, tối hệ trọng tức ơn cứu độ. Ðừng để cho những quà cáp Giáng Sinh làm lu mờ món quà quý giá này, nhưng hãy tăng cường nó bằng tâm tình "chờ đợi" của Mùa Vọng.

Clyde Crews đề nghị Mùa Vọng là thời gian sửa soạn cho cuộc giáng sinh thứ hai của mỗi tâm hồn. Giáng sinh nội tâm. Ðể đạt được trạng thái này chúng ta phải trả giá bằng cầu nguyện, ăn chay, bố thí, lắng nghe lời Chúa, hy sinh, … Thay đổi cuộc đời không có nghĩa là tưởng tượng mà là hành động thực tế để nó có thể mời gọi tha nhân nhận ra Chúa Giêsu đang đến. Amen


Phanxicô đờ Xan Lê Văn La Vinh, O.P

Chuẩn Bị Tâm Hồn

Bắt đầu từ Chúa Nhật hôm nay, chúng ta cùng với toàn thể Giáo hội bước vào một năm phụng vụ mới : năm Phụng vụ 2004-2005. Và năm Phụng vụ mới này được bắt đầu bằng ngày chúa nhật hôm nay : Chúa nhật I Mùa Vọng.

Mùa Vọng có nghĩa là mùa chờ đợi, mùa dọn lòng, mùa chuẩn bị đón biến cố Chúa Kitô giáng sinh. Và khi sống trong tâm tình chờ đợi này, điều cần thiết cho mỗi người tín hữu chúng ta là phải có sự chuẩn bị, phải biết chuẩn bị tinh thần ; và điều này thánh Mát-thêu trong bài Tin Mừng hôm nay đã nói rõ cho chúng ta thấy được sự cần thiết và cấp bách phải có khi đang sống trong sự chờ đợi này.

Mỗi người chúng ta khi sống trong cuộc đời này ai cũng có việc phải lo, ai cũng có trách nhiệm phải làm ; và khi chúng ta lo lắng và thực hiện chu toàn những công việc ấy thì thật là điều đáng quý, đáng trân trọng. Nhưng có một điều là đừng để những lo toan, những công việc trần thế đó lấn lướt, hay làm quên đi bổn phận chuẩn bị và lo lắng cho cuộc sống tâm hồn. Những người dân xưa kia họ cũng chỉ làm những việc bình thường thôi : “lấy vợ, gả chồng và ăn uống” nhưng họ quên mất đi phần tâm linh, quên đi đời sống của linh hồn! Nơi hai người đàn ông làm ruộng hay hai người đàn bà xay bột cũng thế, họ vẫn đang làm bổn phận của mình đấy thôi. Thế nhưng , một ngươi được đem đi vì người đó biết và có chuẩn bị tâm hồn, còn ngươi kia thì bị để lại…

Những điều vừa trình bày trên đây cho chúng ta một kết luận quan trọng đó là phải luôn có thái độ sẵn sàng, phải luôn biết tỉnh thức để đón Chúa, để chuẩn bị cho cuộc sống mai sau.

Mở đầu cho Mùa vọng, chúng ta không phải chỉ dọn lòng chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh ; nhưng quan trọng hơn là chúng ta phải biết chuẩn bị tâm hồn mình để đón chờ ngày Chúa Tái Quang lâm vinh hiển để đón chúng ta. Sống trong tâm tình mùa Vọng cũng là dịp nhắc nhớ mỗi người chúng ta phải luôn biết thức tỉnh, sẵn sàng. Mọi người ai ai cũng phải hoàn thành những công việc, những bổn phận trần thế Chúa trao ; nhưng không vì đó mà lơ là, quên đi việc chuẩn bị cho cuộc sống Nước Trời mai sau.

 
Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Chúa sẽ đến, hãy sẵn sàng
(Mt 24,37-44)

Hôm nay bắt đầu một năm phụng vụ mới. Cũng như một năm của trời đất có các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, thì một năm phụng vụ cũng có các mùa : Vọng, Giáng Sinh, Chay, Phục Sinh, Thường Niên. Mùa đầu tiên của năm phụng vụ là Mùa Vọng. Hai tiếng “Mùa Vọng” cũng đã phần nào cho chúng ta thấy ý nghĩa của mùa này : mùa hy vọng, mùa trông đợi, mùa chờ mong. Hi vọng, trông đợi, chờ mong cái gì ? Chờ mong Chúa Giêsu giáng sinh và chờ mong Chúa Giêsu tái giáng, có nghĩa là từ xa xưa, từ những thế kỷ đầu, Mùa Vọng chỉ có nghĩa là một thời gian chuẩn bị đạo đức để xứng đáng mừng lễ Giáng Sinh. Nhưng từ thế kỷ thứ VII, Mùa Vọng lại thêm một ý nghĩa nữa : trông đợi Chúa Giêsu quang lâm, tức là Chúa tái giáng để phán xét trần gian.

Do đó, đối với chúng ta ngày nay, Mùa Vọng là mùa nhắc lại thời gian dân Chúa xưa kia chờ đợi Đấng Cứu Thế và cũng nói lên niềm chờ đợi của Giáo Hội hôm nay : đợi Chúa Giêsu đến lần thứ hai khi lịch sử kết thúc để phán xét nhân loại. Vì thế, chúng ta thấy lời Chúa của Chúa Nhật I Mùa Vọng này, Chúa Giêsu bảo cho chúng ta biết về ngày Chúa quang lâm, Chúa tái giáng, Chúa trở lại, Chúa đến lần thứ hai, ngày cánh chung, ngày tận thế. Như vậy, chắc chắn Chúa sẽ quang lâm, Chúa sẽ trở lại, có ngày cánh chung, có ngày tận thế. Đây là điều chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính : “Đức Kitô sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết”, và chúng ta cũng tuyên xưng trong thánh lễ sau truyền phép : “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến”.

Nhưng có lẽ điều mà mọi người muốn biết là khi nào Chúa đến ? Khi nào ngày ấy xảy ra ? Thưa : không ai biết được. Cho nên, bất cứ ai nói ngày nào, năm nào tận thế, thì chỉ là phỏng đoán, không đáng tin một chút nào, nếu không muốn nói là nhảm nhí. Bởi vì Chúa Giêsu đã khẳng định rõ ràng : không ai biết điều đó. Thiên Chúa Cha giữ độc quyền bí mật về ngày ấy. Ngày ấy sẽ xảy ra bất ngờ, hoàn toàn bất ngờ, bằng chứng là bài Tin Mừng hôm nay.

Chúa Giêsu nhắc lại câu chuyện lụt hồng thủy thời ông Nô-ê trong Cựu Ước để làm thí dụ so sánh và để làm giáo huấn cụ thể. Trước khi nạn hồng thủy xảy đến, mọi sự đều xảy ra bình thường, không có dấu hiệu gì báo trước, không có ai nhắc nhở cảnh cáo, chẳng ai nghĩ rằng tai họa có thể xảy đến. Cho nên, người ta vẫn mở tiệc ăn uống, vẫn lo cưới vợ lấy chồng, nhưng rồi mọi người, mọi sự đều bị nước cuốn trôi đi hết, trừ gia đình ông Nô-ê vì đã chuẩn bị sẵn sàng nên được cứu thoát. Cuộc quang lâm của Chúa cũng sẽ như vậy, nghĩa là hết sức bất ngờ, không ai dự đoán được. Như vậy, điều làm cho số phận của ông Nô-ê và thiên hạ khác nhau là sự sẵn sàng của ông Nô-ê và sự “không hay biết gì” của những người khác. Cũng vậy, khi Chúa đến phán xét, thì sự khác biệt sẽ xảy ra giữa người này với người khác. Cái làm nên sự khác biệt ấy là sự sẵn sàng và không sẵn sàng của họ, như Chúa đã nói : hai người đàn ông đang cùng làm việc ở ngoài đồng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại; hai người đàn bà đang cùng xay một cối bột, một người được đem đi, một người bị bỏ lại, tức là một người được thưởng và một người bị phạt.

Rồi Chúa Giêsu lại lấy một thí dụ trong đời sống hằng ngày để nhấn mạnh thêm về sư khẩn trương phải sẵn sàng : “Anh em hãy biết điều này : nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm đến, hẳn ông phải canh thức, không để nó khoét vách nhà mình”. Đó là điều dĩ nhiên, chúng ta có thể ngạc nhiên ve cách ứng dụng thí dụ này : “Cho nên, anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến”. Điểm đặc biệt ở đây là chính Chúa Giêsu được ví như kẻ trộm đến bất ngờ, chắc chắn Chúa sẽ đến, nhưng sẽ đến bất ngờ, nên phải tỉnh thức và sẵn sàng.

Như vậy, bài học của Tin Mừng hôm nay thật rõ ràng: Chúa sẽ đến phán xét toàn thể nhân loại trong ngày tận thế, và Chúa sẽ đến gọi chúng ta ra khỏi đời này khi chúng ta chết. Nhưng chúng ta không biết khi nào, ngày nào, nên chúng ta phải tỉnh thức và sẵn sàng. Nếu chúng ta sống trong thái độ như thế, thì bất cứ lúc nào Chúa đến gọi chúng ta ra khỏi đời này, dù có bất ngờ và đột ngột, chúng ta vẫn không lo sợ. Trái lại, chỉ những ai không tỉnh thức và không sẵn sàng mới đáng lo sợ mà thôi.

Cái chết thường bất ngờ, lời Chúa hôm nay cũng nói lên điều đó. Bất ngờ như vậy, có thể là hoàn toàn tự nhiên, bình thường, không phải là số mệnh, không phải là Chúa định, cũng không phải Chúa có ý chơi xấu chúng ta, chỉ nhằm nhè lúc chúng ta lơ là thì Ngài đến. Thật ra tính cách bất ngờ đó có lợi cho chúng ta, nhắc nhở chúng ta : đừng miệt mài trong cõi đời tạm mà quên đi cõi phúc trường sinh; đừng để cho những đam mê lạc thú bất chính, những tiện nghi vật chất, những nhu cầu thể xác cơm áo gạo tiền chi phối, khiến chúng ta quên mất mục đích cuối cùng là trở về nhà Cha trên trời. Đàng khác, tính cách bất ngờ ấy lại tốt cho chúng ta, nhắc nhở chúng ta luôn tỉnh thức, và do đó luôn cố gắng sống tốt lành. Bởi vì nếu biết thời điểm đích xác, chúng ta có thể bị cám dỗ ỷ lại, lười biếng, hoặc tệ hại hơn, tự ru ngủ mình để rồi tiếp tục ngồi lì trong con đường tội lỗi với hy vọng sẽ trở lại với Chúa trong giờ phút cuối cùng. Chính vì tính cách bất ngờ ấy mà nhiều lần Chúa bảo chúng ta phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng. Nếu chúng ta luôn sống như vậy thì chúng ta cứ an tâm vui sống.

Chúng ta còn trẻ, còn khỏe mạnh, còn lâu mới chết ư ? Điều đó đúng thôi, nhưng điều quan trọng là chúng ta hiện đang sống thế nào ? đang tỉnh thức hay mê ngủ ? đang sẵn sàng hay không sẵn sàng ? đang sống tốt đẹp hay bê tha tội lỗi ? Nếu chúng ta đang sống tốt đẹp, chúng ta cứ vui sống.


Gioan B. Vũ Văn Tín op

Hân Hoan Bước Vào Mùa Hy Vọng
(Mt 24,37-44)

Hội Thánh bắt đầu năm phụng vụ bằng Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng. Ngay từ những giây phút đầu tiên của Năm phụng vụ, Hội Thánh kêu mời tất cả các tín hữu hãy hướng tâm hồn lên Chúa và hãy thức dậy khỏi giấc ngủ mê man trong tội lỗi, để đón Chúa, vì Ngài sắp đến.

Mùa vọng là mùa ngóng đợi Chúa đến, cũng như dân Do Thái xưa đã van xin “Trời cao hãy đổ sương xuống và ngàn mây hãy mưa Đấng cứu độ”. Mùa Vọng cũng là mùa tỉnh thức để đón chờ Chúa đến vào cuối cuộc đời chúng ta. Chúng ta hãy thức dậy khỏi giấc ngủ mê như thánh Phaolô đã từng khuyên nhủ tín hữu Roma :

“Anh em thân mến, biết rằng thời này là lúc chúng ta phải thức dậy. Vì giờ đây, phần rỗi chúng ta gần đến, hơn lúc chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. chúng ta hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng. Chúng ta hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đãng, không tranh chấp ganh tị. Nhưng hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và chớ lo lắng thỏa mãn những dục vọng xác thịt.”

Thật vậy, trong mùa Vọng, Giáo Hội nhắc chúng ta nhớ lại việc Chúa Giêsu đã sinh ra làm người để cứu chuộc nhân loại, và việc chúng ta phải chuẩn bị để chào đón Người trở lại trong vinh quang để phán xét thế gian. Đồng thời, chúng ta cũng được mời gọi phải luôn tỉnh thức để nhận biết và tiếp đón Chúa trong cuộc sống hàng ngày nơi mọi người, mọi vật, mọi biến cố xảy ra trong cuộc sống.

Lạy Chúa, Lời Chúa hôm nay khuyến cáo mỗi người chúng con : “Hãy tỉnh thức, vì không biết ngày nào, giờ nào Chúa sẽ đến.” Giờ Chúa đến như kẻ trộm, bất thình lình tựa cơn đại hồng thủy chụp xuống trên chúng con : một cơn sóng thần, một cơn gió thoảng qua, một trận lũ, một cơn đau bệnh… Cái chết đến với mỗi người chúng con dưới muôn hình vạn trạng dù chúng con ở bất cứ đâu và ở bất cứ điạ vị nào. Chúa muốn chúng con phải luôn sẵn sàng đón Chúa đến bất cứ lúc nào. Chúa dùng một dụ ngôn để nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tỉnh thức. Chúa đã ví chúng con như người chủ nhà, nếu biết vào canh nào trộm sẽ đến, chắc chắn sẽ canh thức không để nó đào ngạch khoét vách ! Hình ảnh về hai người đàn ông làm ruộng mà một người được đem đi, người kia bị bỏ lại; hai người đàn bà xay bột, một người được đem đi, người kia bị bỏ lại, cũng nói lên sự cần thiết rằng : chúng con phải thường xuyên tỉnh thức.

Đối với những người chưa nhận biết quyền năng và sự quan phòng của Chúa, họ cho rằng : chết là hết, chết là tận điểm cuộc sống, chết phá tan sự nghiệp công danh và mọi lạc thú trên đời. Vì vậy họ chỉ lo hưởng thụ, không chờ đón và mong đợi gì sau cuộc sống ! Nhưng đối với chúng con, những người Kitô hữu thì chết là cuộc gặp gỡ Thiên Chúa. Mặc dầu vậy, lắm khi chúng con cũng như người mê ngủ cứ bận tâm tìm kiếm danh vọng, lợi lộc mà lơ là việc thiêng liêng, bỏ cầu nguyện, bỏ dâng lễ ngày Chúa Nhật, chưa năng chịu các phép Bí tích.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể "Chờ Đợi - Hy Vọng", đó là hạt giống bất tử mà Thiên Chúa đã gieo vãi trong trái tim mỗi người chúng con. Bởi thế mà đã có lần Thánh Augustinô thưa với Chúa : "Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con. Vì thế tâm hồn con xao xuyến bồi hồi cho đến khi nào được nghỉ yên trong Chúa ".

Lịch sử của dân tộc Israel là điển hình của sự tìm kiếm và mong đợi, nhưng qua dòng lịch sử ấy, Thiên Chúa đã mạc khải cho con người biết đâu là cùng đích của mọi ước mơ và hy vọng. Quả thực, chỉ trong Chúa mới là cùng đích của mọi khát vọng, mọi ước mơ, và chỉ khi nào đạt được mục đích ấy thì chúng con mới hết chờ đợi, hết mơ ước và hết hy vọng. Bao lâu con người còn sống, thì bấy lâu con người còn phải mỏi mòn đợi trông và tìm kiếm.

Lạy Chúa xin cho chúng con nhận ra Chúa là điểm đến của lịch sử con người. Tất cả mọi chờ đợi, mọi hy vọng, mọi nỗ lực và mọi kiến tạo của con người đều qui hướng về Chúa. Ngài là Đấng đang hiện diện. Ngài là Đấng đang đến. Ngài là Đấng tác động trong từng biến cố của lịch sử con người. Chỉ có Ngài mới mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của con người, và chỉ có Ngài mới có thể thoả mãn được mọi ước vọng của con người mà thôi.


Sylvester Nguyễn Ngọc Minh, O.P.

Anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến
(Mt 24, 37- 44)

Lời tuyên báo của ngôn sứ Isaia trong bài đọc I, cho chúng ta thấy ý định của Thiên Chúa dành cho mọi người. Thiên Chúa không ngừng mời gọi và dành cho chúng một vị thế cao trọng trong Nhà Người. Đó là “núi Đức Chúa, là Nhà Thiên Chúa ngự”. Nơi đó, có Đức Chúa hiện diện và mọi người sẽ được tận hưởng sự sống thái bình viên mãn và hạnh phúc tràn đầy.

Sang bài đọc II, thư Rôma, thánh Phaolô không ngừng nhắc nhở người tín hữu nói chung và từng người trong chúng ta nói riêng, về việc chuẩn bị đón chờ ngày cứu độ. Đó là ngày Thiên Chúa hứa ban nguồn hạnh phúc và đời sống thái bình cho mọi người. Để xứng đáng với hồng ân đó, chúng ta cần phải chỉnh trang lại cả về tâm hồn lẫn thể xác, nhất là đời sống đức tin. Điều quan trọng là phải không ngừng “mặc lấy Đức Kitô”, nghĩa là noi gương Ngài, sống theo những gì Ngài đã giảng dạy và để cho Lời Ngài soi dẫn cuộc đời chúng ta.

CHIA SẺ TIN MỪNG

Danh ngôn Tây phương có câu: “Không nên để lại ngày mai những gì bạn có thể làm hôm nay”. Thiết nghĩ, câu nói ấy có thể phù hợp cho chúng ta khi chọn cho mình một tâm tình để sống trong thời gian của Mùa Vọng này. Bởi vì, đây là thời gian Giáo hội không chỉ muốn mỗi người chúng ta nên dành riêng và chú trọng hơn cho việc kiểm thảo lại đời sống của mình, mà còn mong muốn chúng ta sống triệt để hơn, thiết thực hơn trước các giá trị của Tin Mừng trong từng giây phút thường ngày. Sao cho đời sống và tâm hồn luôn có sự sẵn sàng để đón Chúa đến trong một Năm Phụng vụ mới, và cũng có thể đón Chúa đến trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời mình. Do vậy, Chúa Nhật I mùa Vọng đã mở ra cho chúng ta với lời mời gọi khẩn thiết từ Tin Mừng của Đức Kitô: “Hãy Tỉnh Thức”.

Tỉnh thức là gì? Có thể nói, về mặt thể lý, đó là trạng thái của một người không còn mê ngủ, không ngà ngật mà là rất sáng suốt. Về mặt tâm lý, một người tỉnh thức có thể đưa ra những suy nghĩ chính chắn, ít lầm lạc bởi một sự quân bình, an hoà từ nội tâm. Đó là người có khả năng hình thành những phán đoán với tầm nhìn có cả chiều sâu lẫn chiều rộng của vấn đề. Với người Kitô hữu, sống “tỉnh thức” là một thái độ sống biết hướng từng giây phút cuộc đời mình về một hướng điểm duy nhất, đó là ơn cứu độ, là giờ phút cánh chung của chính mình, là đời sống mai sau, và có sự chuẩn bị sẵn sàng cho hướng điểm ấy. Hướng điểm ấy được thể hiện ngay từ những hình ảnh ân sủng mà ngôn sứ Isaia đã tiên báo trong bài đọc I. Đó là lời hứa ban thưởng sự sống và hạnh phúc viên mãn mà Thiên Chúa dành cho hết thảy mọi người. Vấn đề là chúng ta phải làm gì? Phải có thái độ sống thế nào để đạt được những ân thưởng ấy?

Các hình ảnh từ bài Tin mừng như: hai người đàn ông đang làm ruộng; hai người đàn bà đang xay bột, là những hình thông thường, bình dị trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của người Do Thái ngày xưa, và của chúng ta ngày nay, dù khác nhau ở địa phương, vùng miền, nền văn hóa… Đó cũng có thể là những trách nhiệm mà chúng ta phải đảm nhận trong từng vị trí, từng phận sự nhất định hàng ngày. Thế nhưng, biết đâu khi chúng ta đang làm việc, đang thực hiện những trách nhiệm rất nhỏ, rất thường ngày đó, Chúa sẽ đến và mời gọi chúng ta theo Ngài cách bất ngờ. Rất có thể, khi chúng ta chỉ lo mê mải chu toàn trách nhiệm, sao cho đạt hiệu năng cao nhất, được nhiều tiếng tăm nhất, thì Chúa sẽ đến và đưa chúng ta đi mà không báo trước. Hơn thế nữa, giờ Chúa đến đã được thánh Mátthêu ví như là hình ảnh “kẻ trộm đến nhà”. Trộm thì có thể đến bất cứ lúc nào và nằm ngoài dự đoán của gia chủ. Trộm chỉ đem lại cho gia chủ những điều bất an, nhưng nếu có sự chuẩn bị đề phòng trước thì không còn đáng ngại. Hình ảnh này nhằm nhấn mạnh thêm cho ý nghĩa bên trên: Giờ Chúa đến luôn luôn bất ngờ, không ai có thể dự đoán trước cho chính xác thời khắc nào, nhưng vẫn có thể chuẩn bị trước. Với chúng ta, nhờ Lời Chúa mặc khải, chỉ có thể biết là giờ Chúa nhất định sẽ đến trong cuộc đời mỗi người. Giờ đó mọi người sẽ phải đối diện trước mặt Chúa, sẽ trả lẽ về những gì mình đã sống, đã thực hiện và sẽ đón nhận sự phán xét từ Thiên Chúa cách công minh. Lúc đó, sự sống viên mãn, ơn cứu độ của cá nhân sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào những gì chúng ta đang sống trong hiện tại. Do vậy, một thái độ tỉnh thức, cảnh giác và luôn phải chuẩn bị tư thế sẵn sàng để đón Chúa đến là thái độ cần có trong mỗi chúng ta. Thánh Phaolô trong bài đọc II đã không ngừng nhắc nhở chúng ta về điều này.

Thế nhưng, với chúng ta, tỉnh thức không có nghĩa là ngồi đấy chờ đợi giờ Chúa đến cách thụ động. Tỉnh thức cũng không có nghĩa là lúc nào cũng canh cánh bên lòng mối lo lắng, thấp thỏm vì sợ sệt, vì băn khoăn không biết khi nào Chúa đến. Ngược lại, tỉnh thức cũng không phải là thái độ bất cần mọi thứ, buông xuôi để cho ý Chúa tuỳ nghi định liệu. Mà tỉnh thức thực sự, là sự đối diện tốt với hiện tại trong sự sẵn sàng cho tương lai. Đó là thái độ chu toàn tốt việc bổn phận, là sự chuẩn bị mọi mặt để có thể sẵn sàng đón Chúa đến bất cứ lúc nào trong cuộc đời mình. Bên cạnh đó, tỉnh thức còn thể hiện một lòng tín thác, tin tưởng trọn vẹn của chúng ta vào tình thương và quyền năng của Thiên Chúa.

Giống như một bác tài xế tỉnh thức là có thể đảm nhiệm tốt hành trình dài trong sự khát khao mong muốn nhanh chóng tới điểm đến ở cuối hành trình. Thế nhưng, trong thời gian diễn ra hành trình, bác ấy không thể bỏ qua mọi sự chỉ để chăm chắm, cố gắng tỉnh táo để nhìn vào nền mặt đường trước mắt. Bác ấy không thể chỉ biết có hiện tại, là mặt đường đang liên tục trôi vụt qua mà thôi, nhưng để đến được điểm cuối hành trình mà mình biết trước, và không để xảy ra sai sót nào trong suốt chặn đường, sự tỉnh thức của bác tài xế còn có cả mối liên hệ chặc chẽ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai nữa. Được như thế, hành trình của bác tài mới có thể đảm bảo an toàn đến đích điểm mà không phải lo sợ gì. Bởi vì, nếu không có quá khứ, bác tài sẽ không có những kinh nghiệm cần thiết để vượt qua những chặn đường gồ ghề, lổm chổm mà bác từng đi qua. Cũng vậy, nếu không có tương lai, bác ấy sẽ không có tầm nhìn xa, trông rộng để có thể dự đoán, canh phòng những hiểm nguy không lường trước trên con đường. Chúng ta cũng vậy đó, sống tỉnh thức là biết đứng vững trên đôi chân hiện tại và nhìn về tương lại bằng ánh mắt của quá khứ. Sống tỉnh thức là một thái độ không ngừng cảnh tỉnh mình, nhắc nhở mình bằng những kinh nghiệm đau xót trong quá khứ, bên cạnh một thái độ tỉnh táo và khiêm tốn, tin tưởng vào tương lai.

Chính thái độ chuẩn bị, và tư thế sẵn sàng sẽ nối kết chúng ta giữa các phân mảnh của thời gian, đồng thời có thể giúp chúng ta can đảm, kiên trì chu toàn những bổn phận được trao cách tốt nhất, với hết khả năng hiện có của mình mà không phải áy náy băn khoăn. Như thế, chúng ta sẽ không còn phải bận tâm tính toán thua thiệt, hay lo sợ vì còn thiếu sót điều này, điều kia. Thế nhưng, bản chất con người là yếu đuối, là dễ bị ru ngủ bởi những yếu tố thường ngày vốn hấp dẫn của cuộc sống, nên thi hành việc tỉnh thức hàng ngày thực sự không phải là dễ dàng nói chi là cả một đời sống tỉnh thức?

Điều quan trọng của một thái độ tỉnh thức là một tấm lòng phó thác, cậy tin vào ơn Chúa. Khi có sự phó thác sẽ giúp chúng ta thấy bình an hơn khi mình đã cố gắng hết sức mà kết quả đạt được không như mong muốn. Sự phó thác còn giúp chúng ta nhận ra thân phận thấp hèn, giới hạn của chính mình mà luôn phải nương tựa vào quyền năng và lòng thương xót của Thiên Chúa bằng một đức Cậy vững vàng, một lòng mến sâu xa.

Xin ơn Chúa soi sáng cho chúng ta biết tỉnh thức bằng việc thực thi Lời Chúa hàng ngày, bằng việc luôn gắn bó với sứ vụ của Dòng, và chu toàn việc bổn phận được trao trong yêu thương, tín thác, hầu xứng đáng đón Chúa đến bất cứ lúc nào.

Tu viện thánh Martinô 27-11-2007


Đỗ Lực op

Khi Con Người Đến
(Mt 24, 37-44)

Khi nghiên cứu về Giáo hội Ðại Hàn, người ta ngạc nhiên về sức phát triển vượt bực trong vòng chưa đầy một thế kỷ. Thời gian cam go nhất trong các cuộc chiến thế kỷ 20 cũng là những cơ hội khiến cho người Ðại Hàn bớt tự ái và tự hào dân tộc mà khiêm tốn đón nhận những tư tưởng ngoại lai. Nhờ đó, họ càng dễ chấp nhận Tin Mừng hơn. Nói khác những thất bại chua cay trong thực tế đã làm cho dân tộc Ðại Hàn thức tỉnh trước những giá trị cao cả và giá trị có sức cứu thoát của Chúa Kitô.

Nếu không trải qua những biến cố đau thương đó, chắc chắn không bao giờ con người có thể học được bài học khôn ngoan. Thời gian đúng là ông thày dạy khôn cho nhân loại. Nếu thời gian là ông thày dạy khôn, phải nói sao về Ðấng làm chủ cả thời gian (x. Mt 18:8; Mc 2:28; Lc 6:5) ? Hôm nay Chủ thời gian là Chúa Giêsu lên tiếng cảnh giác mọi người về niềm hy vọng lớn lao của con người đứng trước giới hạn của thời gian .

THỜI GIAN NHƯ MỘT GIỚI HẠN

Thời gian là một giới hạn lớn nhất của kiếp người. Khi nào đụng đầu vào giới hạn đó, con người mới giật mình hoảng sợ. Chính vì thế Chúa muốn nhắc nhở nhiều lần giới hạn thời gian để con người tỉnh thức. Chưa bao giờ Chúa đề cập nhiều lần đến giới hạn thời gian trong một đoạn văn ngắn như Tin Mừng hôm nay. Mở đầu Người nhắc lại lịch sử nhân loại trước thời gian ông Nôe vào tàu tránh nạn hồng thủy. Sau đó, Chúa liên tục nhắc đến ý niệm thời gian như : “ngày” (cc.38.39.42); “bấy giờ” (c. 40); “canh”(c.43); “giờ phút” (c. 44). Những nhắc nhở về thời gian như những chặng mốc cần thiết để thức tỉnh chúng ta về giới hạn của kiếp người. Không để ý giới hạn đó, không thể tỉnh thức.

Nhưng có lẽ ý thức về giới hạn đó cũng chỉ giúp con người phần nào. Thời gian chỉ là cái khung. “Con Người” mới là tất cả nội dung của vấn đề nhân loại phải tỉnh thức ngóng chờ. Thế nên, Chúa phải cảnh giác mãnh liệt hơn khi nói đến “ngày Con Người quang lâm” (c. 39) và “Con Người sẽ đến.”(c. 44) Dù lần thứ nhất hay lần thứ hai xuất hiện nơi trần gian, Chúa đã quả quyết, “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.” (Lc 19:10) Bởi vậy, khác với thời gian và vũ trụ, không những Chúa không bị hủy diệt, mà còn đem đến sự sống sung mãn cho muôn loài.

Sở dĩ Chúa kêu gọi mọi người “canh thức” vì không ai biết trước giờ phút Chúa đến. Tất cả diễn ra rất bất ngờ. Như vậy có căng thẳng lắm không? Chúa sẽ đem đến những gì cho cuộc hội ngộ lần cuối đó? Làm cách nào có thể “sẵn sàng” khi “Con Người” đến?

Con Người trở thành trung tâm vũ trụ. Tất cả mọi nỗ lực phải tập trung vào Người. Lý do vì Người đem lại cho vũ trụ và thời gian một ý nghĩa và một hướng sống. Nếu cứ để các giới hạn thời gian, vật chất, kiến thức, của cải v.v. bao vây, chúng ta không thể nào nhìn thấy Người. Dĩ nhiên, sống giữa trần gian, con người khó thoát những hấp lực vật chất. Nhưng Thày sẽ giúp thoát khỏi ma lực ấy, như đã khiến chứng nhân đối đáp khôn ngoan trước bao luận điệu quỷ quyệt trần gian (x. Lc 21:15). Không có Thày, cuộc sống sẽ sống rất căng thẳng. Nhưng có Thày, chúng ta sống bình an.

Có nhiều cách để sống canh thức và sẵn sàng trước giờ Chúa đến. Muốn khám phá cách đúng nhất theo ý Chúa, thiết tưởng chúng ta không thể quên, ngay sau Tin Mừng hôm nay, Chúa kể ba dụ ngôn người đầy tớ trung tín (Mt 24:45-51), mười trinh nữ (Mt 25:1-13) và những yến bạc (Mt 25 14-30). Chúa rất chu đáo khi nói ba dụ ngôn này như ba con đường giúp chúng ta chuẩn bị đón Chúa. Con đường thứ nhất là công bình. Nếu không tỉnh thức trước giờ ông chủ về, chắc chắn người đầy tớ sẽ xử bất công với các đồng bạn. Công bình là một đặc tính của “người đầy tớ khôn ngoan” (Mt 24:45) luôn tỉnh thức đón hạnh phúc lớn lao từ ông chủ. Hạnh phúc ấy lớn đến nỗi “tất cả tài sản” (Mt 24:47) ông chủ đều giao cho anh quản lý.

Con đường thứ hai là trung kiên như các cô trinh nữ chờ đợi mãi tới khuya để đón chàng rể đến. Có trung kiên mới thấy mình phải chuẩn bị những gì và tới mức nào để xứng đáng bước vào phòng cưới. Các nhà chú giải vẫn thấy dầu cần đổ đầy bình là lòng bác ái. Không ai có thể thay ai gánh lấy trách nhiệm sống bác ái và công bình. ÐGH Phaolô VI đã nói : “Tôi kiên quyết kêu gọi tất cả các Kitô hữu hãy hành động ... Mỗi người hãy xét mình xem tới lúc này họ đã làm gì và phải làm gì. Nhắc lại các nguyên tắc, nói lên ý định, vạch ra những bất công và cao giọng tố cáo như ngôn sứ vẫn chưa đủ. Các lời này sẽ không có giá trị thực sự, nếu mỗi người không ý thức mãnh liệt hơn về bổn phận của mình và hành động hữu hiệu.” (1)

Con đường thứ ba là dấn thân đầu tư thời giờ và cuộc sống cho một mục đích duy nhất là Nước Trời. Ðời là một cuộc đầu tư không ngừng để sinh lời. Một thái độ thụ động trước những tiêu cực của cuộc đời sẽ khiến con người trở thành bất công đối với Thiên Chúa và đồng loại. Ðó là một thái độ mê ngủ. Không canh thức, sẽ làm hoang phí bao của cải Thiên Chúa, đáng lý phải được đầu tư để sinh lời, như Chúa Giêsu đã căn dặn : “Chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại.” (Ga 15:16)

Tất cả những nẻo đường công bình, trung kiên và dấn thân đó đều mở ra trước mắt tín hữu. Không đi vào những nẻo đường ấy, không thể gặp gỡ Chúa. Nhưng làm sao khám phá và đi vào ba con đường đó, nếu người ta không muốn gặp gỡ Chúa ? Làm sao gặp gỡ Chúa, nếu không tin ? Nếu không tin, làm sao tỉnh thức ? Nhưng nếu tin, con người sẽ khám phá ra luật công bình, luật bác ái và những công việc phải hoàn thành trên hành trình về gặp gỡ Chúa. Ðó là những quy luật tất yếu giúp con người nuôi hy vọng lớn lao vào cuộc sống hạnh phúc đời đời.

RANH GIỚI ÐẠO ÐỜI

Nếu tỉnh thức, người ta sẽ thấy cuộc đời là cơ hội gặp gỡ Chúa. Chúa đang hiện diện từng giây phút trong mọi lãnh vực. Dĩ nhiên, cứu cánh chỉ có một. Nhưng Chúa dùng nhiều phương tiện và cơ hội khác nhau để đạt cứu cánh đó. Chúa mới là điểm nối kết và là cứu cánh duy nhất làm cho mọi sinh hoạt đạo đời thống nhất.

Trong các sinh hoạt và tương quan đạo đời, nếu không tỉnh thức, con người có thể lạc bước và không thể gặp gỡ Thiên Chúa cũng như đồng loại. Không gặp gỡ Chúa, mọi sinh hoạt trở thành vô nghĩa. Trong tương giao muôn mặt hôm nay, Chúa hiện diện như Ðấng Công Chính và đầy Tình Thương. Bởi đó, nếu không đem lại công lý và tình yêu, mọi tổ chức xã hội và Giáo Hội đều vô giá trị. Chính vì vậy, công lý luôn là một đòi hỏi của nhân loại mọi thời mọi nơi. Không dấn thân tranh đấu cho công lý, chúng ta sẽ đánh mất cơ hội lớn cho Chúa đến viếng thăm trần gian.

Nhìn vào lịch sử nhân loại, nếu không có đức tin, khi tách biệt nhà nước khỏi Giáo hội, nhiều người tưởng có thể xua đuổi Chúa ra khỏi xã hội. Nhưng thật ra Chúa đang hướng dẫn toàn thể nhân loại về một cứu cánh duy nhất. Tuy thế, tương quan giữa nhà nước và Giáo Hội đang gây nhiều nhức nhối và tạo nhiều hỏa mù. Chúa muốn vạch một lằn ranh giữa hai thực thể đó để con người biết tôn trọng và giúp đỡ nhau thi hành sứ mệnh giữa những phương tiện và lãnh vực phức tạp nơi trần thế. Không phân biệt nổi lằn ranh giữa đạo đời và không nhận ra cứu cánh lớn lao vượt trên lằn ranh đó, không thể canh thức giờ Chúa đến trong lịch sử và không thể đón vua hòa bình.

Căn cứ ngay trên lời Chúa "Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa."(Mt 22:21), người ta đặt một ranh giới tách biệt đạo đời. “Tách biệt như thế không những ngăn cản được những bước quá đà của nhà nước thần quyền, mà còn cho thấy nguồn gốc quan niệm về giới hạn của nhà nước. Quyền lực nhà nước có giới hạn và phải tôn trọng lương tâm mỗi người.” (2)

Dinesh D’Souza, một học giả nghiên cứu tại Viện Nghiên Cứu Hoover thuộc Ðại Học Stanford, cảnh báo : “Các nhà chủ trương trần tục hóa xã hội muốn lãnh vực công sạch bóng tôn giáo và luân lý dựa trên tôn giáo để họ có thể độc quyền lấy quan điểm riêng thao túng xã hội. Hậu quả tiến trình này là các tín hữu sẽ bị xếp vào loại công dân hạng hai. Việc tách biệt Giáo hội và nhà nước không được dùng như một thứ vũ khí chống lại Kitô giáo, nhưng phải làm sao để sự tách biệt ấy trở thành nguyên nhân làm cho xã hội được bình an và tôn giáo được tự do.” (3)

Sự tách biệt đó hiện rõ trong lề lối tổ chức và mục tiêu phục vụ con người. Giáo hội tổ chức làm sao đáp ứng nhu cầu thiêng liêng của tín hữu, trong khi các cộng đồng chính trị tạo thêm mối tương quan và các cơ chế để phục vụ tất cả những gì thuộc công ích đời sống.” (4) Tách biệt để thấy rõ lãnh vực hoạt động và tôn trọng nhau, chứ không nhằm đẩy vào tình trạng thù nghịch hay băng giá. Từ đó, hai bên tìm mọi cách lợi dụng nhau. Trái lại, cả hai đều nhằm phục vụ ơn gọi cá nhân và xã hội của con người, mặc dù dưới những danh hiệu khác nhau.

“Vì có bổn phận phải tôn trọng tự do tôn giáo, công đồng chính trị phải bảo đảm cho Giáo Hội có chỗ thực hiện sứ mệnh của mình.” (5) Sứ mệnh Giáo hội chỉ nhằm giúp con người tỉnh thức trước giờ Chúa đến mang ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại mà thôi. Nếu không, con người dễ ngủ mê trước những tranh chấp quyền lực và bả vinh hoa vật chất. Muốn chu toàn sứ mệnh, “chắc chắn Giáo hội có quyền được mọi người công nhận có căn tính riêng về phương diện pháp lý.”(6)

“Vì mật thiết liên hệ đến nhân loại và lịch sử, nên Giáo hội đòi quyền tự do bày tỏ lập trường đạo đức về thực tại này, bất cứ khi nào Giáo Hội được yêu cầu bênh vực những quyền căn bản làm người hay phần rỗi các linh hồn.” (7) Không phải khi nào nói đụng tới con người, Giáo Hội đều làm chịnh trị. Nói khác, con người không phải là đối tượng duy nhất của chính trị. Chính trị không nắm giữ độc quyền trên con người.

Vì lợi ích thực tế, nên tìm cách giảm bớt những xung đột và dung hòa các quyền lợi giữa Giáo Hội và nhà nước. Nếu không, con người sẽ bị mắc kẹt và thiệt thòi giữa cảnh “trâu bò húc nhau” đó. Con người phải là mục tiêu tối hậu mọi lãnh vực. Tách biệt đạo đời cũng chỉ vì lợi ích cho con người mà thôi.

Bằng mọi cách phải bảo vệ con người khỏi những áp lực từ mọi phía. Bởi thế, trong lịch sử, “qua việc bảo vệ nhân quyền, Kitô giáo cũng làm nguồn cảm hứng cho các phong trào chấm dứt nô lệ, thực thi dân chủ và cổ động quyền tự trị, cũng như những nỗ lực đầu tiên xây dựng một học thuyết về nhân quyền. Nhiều công cuộc xây dựng nhân quyền có được là nhờ Kitô giáo rất nhiều.” Nếu không có Kitô giáo như một ý thức cảnh giác nhân loại, làm sao con người có được nhân quyền và bình đẳng như hôm nay. Nhưng Kitô giáo là gì, nếu không phải là một niềm tin vào Ðấng đang đến trong lịch sử và hoàn thành những gì Chúa Cha đã lên kế hoạch?

Không thể bảo vệ nhân quyền , nếu không tách biệt lãnh vực và mục tiêu của Giáo hội và nhà nước. Do đó, nếu can thiệp vào lãnh vực tôn giáo, nhà nước đã vượt quá quyền hạn và xâm phạm nhân quyền. Các tổ chức đan chéo và dẫm chân lên nhau khiến các hoạt động tê liệt hay đi sai mục tiêu. Ngược lại, nếu muốn trung thành với Chúa, Giáo hội không thể tránh xa những con đường tìm gặp Chúa. Phải rất tỉnh thức mới có thể làm cho mọi người, nhất là Kitô hữu, thấy rõ vị trí và niềm hy vọng của mình. Chính vì thấy rõ nhân vị được nâng lên tới chiều kích Chúa Kitô, nên Giáo Hội đã không hề mỏi mệt tranh đấu cho nhân quyền.

Muốn thế, Kitô hữu phải hoạt động để thiết lập công lý trong mọi lãnh vực xã hội. Ðây là lãnh vực đòi họ phải dấn thân và hy sinh rất nhiều. Không thể giản lược sứ mệnh Giáo hội vào công cuộc bác ái và thỏa mãn với những công cuộc phát chẩn hay bố thí. Thực tế, “việc thi hành bác ái và tranh đấu cho công lý phải được coi là khuôn mẫu thường xuyên của Giáo Hội.” (8) Chính vì quá chú trọng tới sinh hoạt bác ái và quên tranh đấu cho công lý, nên cảnh nghèo đói và bất công tràn ngập khắp các nước đang phát triển, đặc biệt tại Châu Mỹ La tinh. Bởi thế, ÐHY Oscar Rodríguez Maradiaga, Chủ Tịch cơ quan Caritas Quốc Tế, lên tiếng báo động : “Nếu sự phát triển là cái tên mới của hòa bình thì sự kém phát triển tại Mỹ Châu Latinh và tình trạng bất công có các đặc điểm khác nhau tại mỗi nước, sẽ gia tăng tình trạng căng thẳng đưa đến nguy cơ cho nền hòa bình.” (9) Ðó là dấu chỉ Giáo Hội không tỉnh thức và không chuẩn bị cho mọi người mong chờ Chúa đến.

Không tranh đấu cho công lý, Kitô hữu không thể hoàn thành sứ mệnh. Lý do vì “mục tiêu của sự phát triển không phải là chỉ nâng cao mức sống của dân chúng bằng mức sống trong các nước giầu có, mà phải dựa trên căn bản đời sống có được nhân phẩm hơn hay không trong các công việc có tính liên đới, đời sống và óc sáng tạo của mỗi con người có thể tăng lên một cách hữu hiệu, kể cả cái khả năng của cá nhân đáp trả về ơn kêu gọi của riêng mình và do vậy đáp ứng lại lời mời gọi của Thiên Chúa” (10) Không có Giáo Hội, ai sẽ nhắc nhở và hoạt động cho mọi người đạt tới mục tiêu cao cả như thế ? Nếu không can đảm đứng tách biệt khỏi nhà nước, không bao giờ Giáo Hội có đủ tư cách và khả năng hoàn thành sứ mệnh của mình.

ÐƯỜNG NÀO CHO CHÚA ÐẾN

Cho tới nay, việc phân biệt đạo đời cho thấy điều gì ? Rõ ràng tôn giáo bị gạt ra ngoài xã hội và không có một ảnh hưởng gì tới nhà nước.

Sống trong một xã hội với những cơ chế như thế, làm sao con người có thể tỉnh thức ? Chẳng lẽ mục tiêu Giáo hội cuối cùng chỉ còn là những hình thức và những lợi lộc vật chất ? Chúa sẽ đến qua ngả nào, khi Giáo hội bị lóa mắt trước những hào nhoáng vật chất và vinh quang trần thế ? Nếu không trải qua những thất bại sau bao cuộc chiến, dân tộc Ðại Hàn có tỉnh thức trước giờ Chúa đến với bao hồng ân từ lời Chúa không ?

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sống khiêm tốn, sẵn sàng đón Chúa đến với tấm lòng khiêm cung. Xin hãy đốt lên niềm hy vọng để mọi người có thể sống vững mạnh giữa đêm trường thế kỷ. Amen.

đỗ lực 02.12.2007


---------

1. Phaolô VI, A Call to Action (Octogesima Adveniens), 1971

2. http://www.zenit.org/article-21112?l=english

3. Ibid.

4. Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội, 424.

5. ibid.

6. ibid., 426.

7. x. Luật Giáo Hội, 747, triệt 2; Giáo lý Công giáo, 2246.

8. Oscar Rodríguez Maradiaga, http://www.vietcatholic.net/News/Read.aspx?id=49236

9. ibid.

10. ibid.


Lm. Jude Siciliano, OP (Anh Em Nhà Học Đaminh GV chuyển ngữ)

 HÃY TỈNH THỨC
Mt. 24,37-44

Thưa quý vị,

Ngày Lễ Tạ Ơn vừa kết thúc vào thứ Năm vừa qua. Quả là một ngày lễ tuyệt vời ! Tôi đoan chắc nhiều gia đình đã thưởng thức món súp gà tây trong những ngày qua. Chắc chắn chúng ta cũng dùng món Sandwich kẹp gà tây với nước sốt trứng cá. Rất nhiều người coi Lễ Tạ Ơn là ngày nghỉ ưa thích : thực đơn khá thú vị, mỗi gia đình mỗi khác. Những món ăn truyền thống khơi nên những kỷ niệm về thời thơ ấu – “món ăn ngon”. Có nhiều cảnh tượng quen thuộc về trái bí ngô, bài trí giản dị và ở bán cầu Bắc còn có những chiếc lá thu. Chẳng cần vội vã mua quà làm gì, vì đây là thời gian dành cho gia đình và bạn hữu. Lễ Tạ Ơn không có bầu khí rộn ràng của mùa Giáng Sinh như chúng ta thấy ngoài kia, bên ngoài nhà thờ.

Sau cảm giác ấm áp của ngày Lễ Tạ Ơn, hôm nay, khi bước vào trong nhà thờ, chúng ta có thể thấy hơi sửng sốt. Ở nơi phượng tự của chúng ta, việc bố trí đã được giản thiểu đáng kể : không có những chiếc lá thu rực rỡ ánh hồng cũng chẳng thấy trưng hoa. Không phải là màu vàng và màu đỏ tươi của mùa thu, nhưng chỉ có màu xanh thẫm và màu tím. Những gì hiện ra trước mắt chúng ta là một bàn thờ hoàn toàn mộc mạc với cung thánh trống không. Ngay tại trong nhà thờ này, Lễ Tạ Ơn rõ ràng đã không còn nữa ! Những gì chúng ta nhìn thấy và nghe thấy cho chúng ta biết là mình đang ở trong một mùa khác, khắc khổ hơn và ít hào nhoáng hơn. Dường như chẳng có vẻ gì là “cảm giác hạnh phúc” phải không ? Nếu chúng ta hãy còn nghi ngờ, thì quả là không hẳn như vậy.

Quí vị có nghe nói về những biểu tượng trong bài Tin Mừng  hôm nay nói về lụt lội và con người mất sự cảnh giác hay không? Những người thợ trên cánh đồng đang xay lúa thì được đưa đi giữa lúc đang làm công việc thường ngày. Cùng với hình ảnh của Tin mừng, lời khuyên của thánh Phao-lô đưa ra những cảnh báo thảm khốc và ảm đạm, nhắc chúng ta luôn tỉnh thức, loại bỏ những việc làm đen tối và ăn ở ngay thẳng “như người đang sống giữa ban ngày”.

Vâng, đây không phải là ngày nghỉ Lễ Tạ Ơn cuối tuần trong nhà thờ và Giáng Sinh thì chưa đến. Chúng ta hãy còn những bốn tuần trước khi nghe câu chuyện Giáng Sinh, dù chúng ta đã thấy đồ trang trí Giáng Sinh nơi các cửa hiệu và bên hông các gian hàng dược phẩm, tạp hóa bày đầy kẹo Giáng Sinh. Chúng ta đã phát chán khi nghe bài “Đêm An Bình” (Silent Night) được phát trong các thang máy của cửa hàng bách hoá hay chưa? Ngoài kia, cái gì cũng có nhưng lại thiếu “sự yên lặng”. Quả thực, âm thanh thì muốn điếc lỗ tai và tiếng ồn ngày càng tăng, càng lớn.

Khi ở nhà, ở công sở hay bất cứ nơi đâu, chúng ta đã thực sự bước vào điều mà nhiều người gọi là “Mối Âu Lo Lễ Hội”. Chúng ta lo lắng vì không biết nên mời ai tới dự bữa tối Giáng Sinh và mua thứ gì để làm quà. Đâu là quà nào mới nhất mà mọi đứa trẻ “phải có” ? Đâu là vật dụng hoặc món trang sức thời trang nhất mà người bạn đời của mình đang để ý trong các chương trình quảng cáo ? Tất cả những lo âu này ngày một nhiều do sự bùng nổ của các chương trình quảng cáo – chẳng ai thoát khỏi chúng. Thật dễ hiểu tại sao mà mùa này có nhiều người tự vẫn, bạo hành gia đình tăng, nhiều người bị rối loạn tim mạch hơn bất kỳ mùa nào khác. Chúng ta còn bỏ sót điều gì, hay còn quên ai nữa không?

Với tất cả những điều đang xảy ra ngoài kia, thì việc thực hiện một cuộc trốn thoát ra như không thể được. Quả là không tệ khi đến nhà thờ để nghỉ ngơi; để có cơ hội tận hưởng một không gian giản dị với những bài thánh ca êm đềm, để trấn tĩnh và nhìn sâu vào cõi lòng mình, cũng như ý nghĩa của mùa này. Chưa phải là những bài thánh ca như : “Trang trí đại sảnh bằng cây Noel” (Deck the Halls with boughs of Holly) hay một giai điệu khác như bài “Tiếng Chuông Ngân” (Jingle Bell)  hay “Chú tuần lộc mũi đỏ Rudolph” (Rudolph the Red Nose Reindeer).

Thật may, chúng ta đang ở trong mùa Vọng. Đây là mùa chúng ta nghỉ ngơi và trong giờ phút thờ phượng này, hãy cảm nhận tâm tình ít mãnh liệt hơn, bước chầm chậm rồi dừng lại để ngắm nhìn và lắng nghe cuộc đời của mình. Và cuối cùng sẽ thấy đây chưa phải là thời gian ảm đạm. Đây không phải là liều thuốc giảm đau, nhưng là một mùa vui. Đây là giây phút hiếm hoi giúp tinh thần sáng suốt, là dịp để thư giãn, như Lời Chúa hôm nay khuyên nhủ chúng ta: “Đây là mùa để… Tỉnh thức”.

Cộng đoàn phụng vụ chúng ta có nhiều tước hiệu ưa thích dành cho Chúa Giê-su, đặc biệt là trong mùa Vọng này. Chúng ta gọi Ngài là Thái Tử Hoà bình, là Đấng Cứu Thế, là Đấng Messia, là Emmanuel – Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta… Tôi chắc rằng mỗi người cũng có những danh hiệu ưa thích của riêng mình dành cho Người: “Bạn”, “Thầy thuốc”, “Đấng an ủi”… Nhưng tôi cho rằng không ai trong chúng ta dám gọi Ngài đúng như Ngài tự gọi mình trong bài Tin Mừng hôm nay. Cách Ngài nói về mình làm mọi người sửng sốt. Ngài nói rằng khi Ngài trở lại, Ngài sẽ đến như kẻ trộm giữa đêm khuya– thình lình, không ngờ tới.

Đây chẳng phải là cách rất tự tôn về chính Người đó sao? Chắc chắn là chúng ta không mở rộng vòng tay để đón những kẻ trộm. Thực tế, chúng ta bảo vệ mình khỏi bọn họ: chúng ta cài chặt then cửa, đặt những chấn song ở tầng hầm và những cửa sổ tầng trệt; gắn chuông chống trộm trong xe hơi và nhà ở; treo những thông cáo trên các cửa sổ để báo có hệ thống an toàn… Đến như kẻ trộm: quả là một hình ảnh rất lạ mà Đức Giêsu sử dụng để cảnh báo về sự trở cách bất ngờ của Người trong cuộc đời chúng ta!

Trong khi hình ảnh Đức Giêsu  như một kẻ trộm không phải là hình ảnh đầu tiên xuất hiện trong đầu chúng ta, nhưng phải chăng Người vẫn còn là kẻ trộm? Ngài muốn lẻn vào những nơi phức tạp và bước vào chốn ẩn khuất trong cuộc đời chúng ta. Ngài đúng là một tên trộm, nhưng là trộm lành. Ngài lấy đi những thứ không cần thiết mà chúng ta đem theo bên mình, những thứ đè nặng lên cuộc đời chúng ta như: tội lỗi, sự hối tiếc, hận thù, đố kỵ, hay tinh thần nguội lạnh… Nhưng Ngài để lại những thứ có giá trị – tuỳ theo nhu cầu chúng ta thực sự cần trong cuộc sống.

Đâu là điều chúng ta cần trong mùa Vọng này: lòng tin tưởng sâu xa hơn trong sự đợi chờ; kiên trì làm những việc thiện; dọi ánh sáng vào nơi tăm tối; canh tân niềm tin của chúng ta; chữa lành Giáo hội; đem bình an vào những nơi ưu phiền….?

Mùa Vọng là thời gian để tỉnh thức, sẵn sàng cho kẻ trộm bước vào cuộc đời ta cách mới mẻ. Ngài là kẻ trộm mà chúng ta cần phải luôn để mắt đến và lắng tai nghe để có thể nhận ra những dấu hiệu của kẻ trộm khi Ngài bước đến. Chúng ta cầu xin luôn được cảnh giác trong mùa Vọng này. Khi chúng ta nhận ra mình đang tự do tiến đến chân lý và rồi chúng ta chọn để trở nên ngày một lương thiện hơn, đó chính là những việc Ngài làm – tên trộm lành đã đến rồi đó. Kẻ trộm lành đã đến khi chúng ta vô tình hay khó chịu với người khác nhưng ta nghe lòng mình nói : “tôi xin lỗi”; Khi chúng ta nhận ra người khác không cần phải bày tỏ lòng yêu mến chúng ta trong mùa Giáng Sinh này bằng những món quà đắt đỏ; Khi những nhu cầu của người nghèo chạm đến cõi lòng chúng ta và chúng ta tìm cách đáp lại nhu cầu của họ; Khi chúng ta bị cuốn hút vào việc cầu nguyện cách say mê hơn – thì kẻ trộm lành đã đến rồi đó. Khi Lời Chúa trở nên sống động hơn trong những thánh lễ này và chúng ta có một cảm nghiệm mới mẻ về sự hiện diện của Ngài trong Bí tích Thánh Thể thì kẻ trộm lành đã đến rồi đó.

Đức Giêsu đến bất ngờ trong cuộc đời của những người bình dị, những người vẫn đang ăn uống, kết hôn hay lao động. Họ không phải là những người xấu; họ là những người như chúng ta, bận tâm với những điều quan trọng, với những công việc thường ngày. Chìa khoá để khám phá ra dụ ngôn hôm nay là kẻ trộm yêu chúng ta và muốn yêu chúng ta hơn thế nữa nên Ngài đến khơi dậy nơi chúng ta, để chúng ta vượt qua những gì nhàm chán hằng ngày. Ngài muốn chúng ta lưu tâm đến mùa Vọng này và cất khỏi chúng ta tính tự mãn. Ngài là kẻ trộm đến khi chúng ta mất cảnh giác, khi những công việc thường ngày đã khiến chúng ta tê liệt, mệt nhoài.

Trong Chúa Nhật thứ nhất mùa Vọng này chúng ta cầu xin một tinh thần tỉnh thức để nhận ra Đức Giêsu khi Ngài đến trong cuộc đời chúng ta, một cách mới mẻ và bất ngờ. Chúng ta cầu xin cho công việc thường ngày không làm chúng ta uể oải khi Ngài đến, hay khiến chúng ta chỉ nhìn vào những nơi chúng ta thường mong đợi ngài xuất hiện.

Lm. Jude Siciliano, O.P.

Đức Giêsu không phải kẻ trộm đến để lấy cắp

Is 2,1-5;  Rm 13,11-14;  Mt 24,37-44

Kính thưa quý vị,

Mùa Vọng đã đến. Hai tuần đầu của mùa Vọng không hướng đến lễ Giáng Sinh – chưa phải lúc này. Vì hai tuần đầu mùa Vọng, chúng ta suy nghĩ về những hoàn cảnh cá nhân, đất nước và thế giới. Quá nhiều người đang bị tổn thương và chúng ta không thể nhắm mắt làm ngơ trước nỗi đau của họ, nhưng chúng ta hãy cùng nhau ngồi quây quần trên vạt áo của ông già Noel để đưa ra những ước muốn của mình. Tất nhiên, đây chưa phải là lúc những thành viên trong gia đình và nhóm bạn bè chúng ta gặp cảnh khốn cùng. Thời gian này lại không phải các gia đình trong giáo xứ, nơi tôi đang rao giảng hiện nay, nằm trong giai đoạn chưa khôi phục sau cơn bão cát cách đây hơn một năm. Đây cũng không phải là lúc tôi cầm tờ báo lên đọc từng mục ở trang bìa, để rồi nhìn vào bức tranh những người Syria đang đói, hay những người Philippines bị bão lớn tàn phá.

Vào thứ Sáu, ngày 25 tháng 10, nhật báo New York Times đã đăng lên trang nhất một bản tin khiến tôi ớn lạnh và đau buồn. Ở đầu bài báo là một bức hình được chụp từ bên trong một lò bánh mì Damascus. Bức hình cho thấy một vài ổ bánh mì mỏng dính, vài công nhân đang chăm chú nhìn qua những cửa sổ nhỏ hẹp, và dân chúng đang nhìn vào kho dự trữ bánh mì ít ỏi. Trẻ em và các bậc cha mẹ thì nơm nớp lo âu không biết liệu mình có lấy được chút bánh mì nào từ những kho dự trữ đang cạn kiệt đó không.

Bài báo còn giải thích rõ ràng những chi tiết ác nghiệt hơn nữa: “Có đến năm triệu người Syria là những người tị nạn trong chính đất nước của họ, đang sống cảnh “làm ngày nào xào ngày ấy” trong những toà nhà bỏ không, trường học, nhà thờ Hồi giáo, công viên và những ngôi nhà chật hẹp của những người bà con thân thuộc”. Những người khác bị mắc kẹt trong khu xóm của họ do sự xung đột, họ sợ phải lìa bỏ gia đình. Các nguồn cung cấp y tế thì thiếu thốn. Thêm vào đó, cuộc nội chiến dai dẳng đã khiến cho hai triệu người Syria phải rời bỏ đất nước của họ. Khi mùa đông đến, những khó khăn đó càng trở nên tồi tệ hơn.

Chúng ta cần có mùa Vọng trước khi chúng ta lồng vào những bài hát mừng Giáng Sinh. Chúng ta cần sự thực tế mùa Vọng kiểm thảo lại; thế gian đang đau đớn, và quá nhiều người có tương lai trông mờ mịt. Sẽ đến lúc mọi người đứng chung quanh hang đá Giáng Sinh và chiêm ngắm Ngôi lời nhập thể, niềm hy vọng của chúng ta, nhưng chưa phải lúc này.

Ngôn sứ Isaia là sứ giả khai mở mùa Vọng cho chúng ta. Cho dù cảnh tượng tối tăm và tinh thần chúng ta mệt mỏi, vị ngôn sứ vẫn đi cùng chúng ta lên ngọn núi cao để chúng ta có thể nhìn thấy rõ về hiện tại và tương lai của mình.

Ngôn sứ Isaia sống trong thời buổi hỗn loạn, rất giống với mỗi người chúng ta. Đất nước Israel (vương quốc phía Bắc) đã rơi vào tay những người Syria, và chẳng bao lâu nữa, miền Giuđa cũng chung số phận. Dân chúng đã đánh mất lòng tin vào Thiên Chúa và quay trở lại khối liên minh cùng với các dân tộc khác. Lúc này, ngôn sứ Isaia ra sức thuyết phục họ rằng, Thiên Chúa chính là sự an toàn đích thực của họ. Hôm nay, chúng ta lắng nghe về niềm hy vọng và sự an toàn mà ngôn sứ Isaia muốn diễn tả cho dân được biết. Giêrusalem sẽ là trung tâm về sự chỉ dẫn của Thiên Chúa, và là nơi quy tụ tất cả các dân tộc. Sẽ không còn chiến tranh nữa, “họ cũng sẽ thôi học nghề chinh chiến”.

Có ai lại không muốn hoà bình? Hoà bình là điều chúng ta cầu nguyện cho chính mình, cho gia đình và thế giới. Chúng ta mong muốn hoà bình, nhưng chúng ta có tạo cho những lời nói và hành động của mình mang lại hoà bình hay không? Chúng ta có thể đọc sách ngôn sứ Isaia hôm nay như một lời cầu nguyện: Cầu xin Thiên Chúa tạo cho tâm hồn chúng ta thành những lời của vị ngôn sứ, ngõ hầu chúng ta có thể vứt bỏ mọi gươm đao và giáo mác đang mang vác trên người. Ngôn sứ Isaia kêu gọi chúng ta chú ý thay đổi tâm hồn và hiến thân cho một lối sống mới.

Chúng ta mong muốn mọi chiến tranh ngừng lại. Liệu chúng ta có nhận ra mùa Vọng này rằng, mình có thể góp phần trong việc xây dựng vương quốc thái bình mà ngôn sứ Isaia đã được thấy hay không? Cùng với thị kiến của mình, ngôn sứ Isaia còn thêm vào một lời hứa rằng, Thiên Chúa sẽ đồng hành và ở cùng chúng ta cho tới khi thị kiến ấy được hoàn trọn. “Nhà Giacóp hỡi, ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường”.

Trong  mùa Vọng, nhiều giáo xứ sẽ tháo dỡ tấm thảm xanh nơi cung thánh và những bức màn trang trí. Thay cho chủ đề lễ hội sẽ là một sự bố trí tựa như sa mạc – những hòn đá, cát, những nhánh cây không lá… Khi bước vào nhà thờ, người ta sẽ lập tức cảm thấy rằng mình đang ở trong một tâm trạng, hay một bầu khí đặc biệt dành cho mùa Vọng. Có điều gì đó đã kết thúc, nhưng cũng có điều gì đó đang bắt đầu. Lối đi được phát quang để gợi lại sự suy tư và tự vấn.

Tin Mừng đưa ra một thông điệp về sự cấp bách. Xin đừng trì hoãn những điều quý vị cần phải sửa đổi. Thời gian ít ỏi nên chúng ta phải hành động mau lẹ. Chúng ta không được để cho những tư tưởng yếu đuối lừa gạt – “Ăn uống, cưới vợ lấy chồng”. Những kiểu mẫu sống đó có thể nhanh chóng thay đổi, thậm chí tan rã. Liệu chúng ta có sẵn sàng cho những thay đổi đột ngột như thế hay không?

Đức Giêsu dùng một thí dụ khác thường để thức tỉnh chúng ta. Người tự ví mình đến với cuộc đời chúng ta như kẻ trộm đột nhập vào nhà. Quý vị có từng nghe thấy một âm thanh lạ dưới tầng hầm nhà quý vị, hay có ai đó đang lay mạnh vào quả đấm cửa phòng của quý vị hay chưa? Nếu quý vị đã đề phòng thì chẳng có chi phải sợ hãi. Còn nếu không, quá trễ rồi, kẻ xâm nhập có thể đã ở sẵn trong nhà!

Ai lại không thích một khuôn mẫu chuẩn mực trong cuộc sống của mình? Thức dậy cho con cái ăn sáng và đưa chúng đến trường; đi làm đúng giờ; khởi đầu một ngày làm việc hiệu quả; trở về nhà sau khi mua sắm; thức ăn nấu trên bếp lò, hay hâm nóng trong lò vi ba. Đức Giêsu căn dặn chúng ta không được để cho cả đời mình chìm vào cơn mộng du. Người sẽ can thiệp vào thời điểm thuận tiện và bất ngờ nhất.

Nhưng quý vị có tin rằng Người không phải là kẻ trộm đến để lấy cắp không? Thay vào đó, Người là kẻ xâm nhập đột ngột, không gây nguy hại, nhưng để giải thoát chúng ta khỏi chính mình. Quý vị có tin rằng Người phá bỏ tính tự mãn để thức tỉnh ta, giúp ta nhận ra mình cần thay đổi và rồi Người ở với ta, và cho ta có khả năng thực hiện những thay đổi quan trọng sẽ đem lại cho ta sự sống hay không?

Lời căn dặn của Đức Giêsu không chủ ý khiến chúng ta sợ hãi hay lo âu. Chúng ta không giống như một số người mong đợi Đức Giêsu trở lại vào một lúc nào đó, để rồi đi vào sa mạc hay tới một ngọn núi để ăn uống, cầu nguyện và hướng về tận cuối chân trời mà mong chờ Người. Thay vào đó, Đức Giêsu cho chúng thấy một thực tại mới, đó là sự xâm nhập vào vương quốc của Người.

Khi tỉnh mộng, Người sẽ cho chúng ta trở lại với cuộc sống thường ngày. Có thể chúng ta sẽ cảm thấy “vẫn như cũ”. Nhưng lúc bấy giờ chúng ta sẽ thấy rõ sự hiện diện của Người, và thấy rõ triển vọng của một thực tại mới: sự công chính và nền hoà bình đang ngự trị. Đó là điều Thiên Chúa mong muốn cho thế gian và cho chúng ta; chúng ta được mời gọi để giúp mang lại những niềm hy vọng trên. Tự ví mình như kẻ trộm, Đức Kitô đã đột nhập vào tâm hồn chúng ta, và nhờ đó, mọi thứ được biến đổi, biến đổi tất cả trở nên điều thiện hảo.